UNG THƯ VÚ VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Ung thư vú tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ:


100% khỏi bệnh nếu phát hiện ung thư vú sớm

Ung thư vú là căn bệnh gây tử cao thứ 2 trong các loại ung thư nên việc phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh và điều trị kịp thời là rất quan trọng. Vì vậy, hãy trang bị cho mình kiến thức cần thiết về căn bệnh này.

1.1. Tỷ lệ mắc và tử vong ung thư vú

Ung thư có tỷ lệ mắc cao nhất và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong các bệnh ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Ung thư vú có xu hướng gia tăng ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang sống với quá trình Phương tây hóa nhanh như Nhật Bản và Singapore. Tỷ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng trong những năm gần đây, nhưng tỷ lệ tử vong đã giảm do phương pháp sàng lọc phát hiện sớm cũng như các tiến bộ trong điều trị. Năm 2016, theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 249. 260 trường hợp ung thư thể xâm lấn mắc mới và khoảng 40.890 trường hợp tử vong (Siegel RL, 2016). Tại Việt Nam, theo ghi nhận ung thư tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1995 đến 1998, tỷ lệ mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi là 13, 6/100. 000 người. Từ năm 2001 đến 2003, ung thư vú có tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 33, 7/100. 000 người ở Hà Nội; 10,4/100. 000 người ở Thái Nguyên; 9,0/100.000 người ở Hải Phòng; 11,5/100.000 người ở Huế; 21,9/100.000 người ở Cần Thơ. Năm 2003 tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh trong các năm người ta ước tính tỷ lệ ung thư vú chuẩn theo tuổi là 17,4/100.000 người, đứng đầu trong số các loại ung thư ở phụ nữ (Nguyễn Bá Đức, 2004). Đây là loại ung thư có tỷ lệ mắc cao nhất ở phụ nữ Việt Nam (Nguyễn Chấn Hùng, 1997), (Phạm Hoàng Anh, 2003). Bùi Diệu và cộng sự (2013) nghiên cứu xu hướng ung thư vú ở Việt Nam trên phụ nữ có địa chỉ thường trú tại 6 tỉnh Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh từ năm 2004 đến 2008 tại 141 bệnh viện tham gia ghi nhận. Kết quả cho thấy từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, có 8.162 trường hợp ung thư vú ở phụ nữ ở 6 tỉnh được ghi nhận, chiếm 25,1% tổng số trường hợp ghi nhận ung thư ở phụ nữ.

Như vậy tại 6 vùng ghi nhận , Hà Nội có tỷ lệ mắc ung thư chuẩn theo tuổi ở nữ giới cao nhất ASR = 146,9 /100.000, tiếp đó là TP . Hồ Chí Minh ASR = 131,5/100.000, Cần Thơ ASR = 128,1/100.000, Thừa Thiên Huế ASR = 95,6/100.000, Hải Phòng ASR = 88,9/ 100.000 và Thái Nguyên ASR = 80,4/ 100.000. Ung thư vú đứng đầu ở nữ giới tại tất cả các vùng ghi nhận. Bùi Diệu và CS ( 2012 ) nghiên cứu gánh nặng bệnh ung thư và chiến lược phòng chống ung thư quốc gia đến năm 2020 cho thấy ung thư vú vẫn là bệnh có tỷ lệ mới mắc cao nhất trong số các ung thư ở nữ giới . Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ung thư giai đoạn 2008 - 2010 với mục tiêu chung từng bước giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết do ung thư, cải thiện chất lượng sống cho người bệnh ung thư với một số mục tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ người bệnh ung thư được phát hiện sớm, giảm tỷ lệ tử vong của một số loại ung thư phổ biến trong đó có ung thư vú qua các chương trình sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú, cụ thể thông qua việc hướng dẫn cho phụ nữ từ 25 tuổi tự khám vú mỗi tháng một lần sau khi sạch kinh. Đối với phụ nữ trên 40 tuổi, mỗi năm đến cơ sở chuyên khoa để khám vú , chụp X - quang tuyến vú ( mammography ).

1.2. Các yếu tố nguy cơ ung thư vú

Nguy cơ mắc ung thư vú theo suốt cuộc đời người phụ nữ. Tuy nhiên người ta nhận thấy rằng nguy cơ mắc bệnh này tăng chậm ở độ tuổi từ 45 - 50. Điều này gợi ý rằng ung thư vú là loại ung thư có liên quan mật thiết với nội tiết. Ước tính trung bình cứ 8 người phụ nữ Mỹ thì có 1 người mắc ung thư vú. Tại Pháp tỷ lệ này là 1/10. Tỷ lệ tử vong do ung thư vú tăng lên theo tỷ lệ mắc. Tuy nhiên ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhanh chóng nhưng tỷ lệ tử vong vẫn giữ được ở mức độ ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và các thành tựu đạt được trong điều trị, đặc biệt là điều trị hệ thống. Người ta nhận thấy tỷ lệ mắc ung thư vú tăng gấp 2 lần so với những năm 50 thế kỷ 20 ở một số nước có nền công nghiệp phát triển mạnh trong các năm qua như Nhật Bản, Singapore, một số thành phố của Trung Quốc. Sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ mắc ở các vùng này phần nào được giải thích do sự thay đổi về lối sống, kinh tế phát triển, ngày càng có nhiều phụ nữ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, tuổi thọ trung bình tăng, thay đổi về sinh sản, chế độ ăn. Mặc dù bệnh căn của ung thư vú còn chưa được xác định rõ ràng nhưng có một số yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú đã được xác định bao gồm các yếu tố về tuổi, giới, yếu tố gia đình, yếu tố nội tiết, chế độ dinh dưỡng, yếu tố môi trường, các yếu tố liên quan đến tiền sử sản phụ khoa và yếu tố về gen. Nhóm phụ nữ có mẹ đẻ, chị em gái ruột, con gái bị ung thư vú có nguy cơ cao hơn nhóm tương ứng không bị ung thư vú ( Ferley 9 , 2010 ), ( Ray R . Harris , 2004 ). Các yếu tố nguy cơ ung thư vú bao gồm: - Yếu tố gia đình: trong các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú, nổi bật nhất là tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú. Một phụ nữ có mẹ hoặc chị, em gái hoặc con gái đã bị ung thư vú thì nguy cơ bị bệnh này cao hơn gấp 2 - 3 lần so với các phụ nữ khác. Nếu người trong gia đình bị ung thư vú khi ở tuổi trẻ thì nguy cơ cao hơn. Nguy cơ cũng tăng khi trong gia đình có từ hai người trở lên bị mắc ung thư vú. Ngay cả những người không mang các gen nhưng gia đình có người mắc ung thư vú cũng có nguy cơ cao hơn. Hiện nay, người ta chỉ có thể cho rằng hiện tượng này do môi trường sinh hoạt chung hoặc do những gen mà chúng ta chưa biết được hoặc cả hai . - Gen: như chúng ta đã biết, biến đổi hay đột biến một số gen có thể làm tế bào chuyển thành ác tính. Năm 1994 người ta tìm thấy sự liên quan giữa đột biến gen ức chế u, nằm trên nhiễm sắc thể 17 và 13 với ung thư vú, ung thư buồng trứng và một số loại ung thư khác. Khoảng 5 % các trường hợp ung thư vú có đột biến và thường bị bệnh khi còn trẻ. Ngoài ra gen này cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư đại tràng. Đột biến gen cũng có nguy cơ gây ung thư vú ở nữ tương đương với nguy cơ đột biến gen. Ung thư buồng trứng cũng có thể xảy ra với đột biến gen này nhưng thấp hơn so với. Đột biến gen p53 cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú, p53 là gen ức chế u, chịu trách nhiệm trong bệnh sinh nhiều loại ung thư trong đó có ung thư vú. Ngoài ra, một số gen khác bị biến đổi cũng liên quan với nguy cơ ung thư vú. Những hội chứng do các rối loạn về di truyền như hội chứng Li - Fragmeni, hội chứng Cowden, hội chứng Muir, giãn mạch " thất điều cơ cũng có thể làm xuất hiện ung thư vú. Những nghiên cứu gần đây cho thấy có khoảng 10 % ung thư vú do di truyền R . Harris, 2004 ). - Các yếu tố nội tiết: ung thư vú là một trong số các ung thư có ". quan mật thiết đến nội tiết tố nữ, cụ thể là estrogen được sản xuất chủ yếu tại buồng trứng. Một trong những tác dụng của estrogen là làm tăng sinh các tế bào biểu mô tuyến vú, cần thiết cho quá trình sinh sản nuôi con. Tuy nhiên, nếu tế bào tuyến vú tiếp xúc với estrogen quá nhiều, các tế bào tăng sinh mạnh kết hợp với các đột biến có thể xảy ra trong quá trình phân chia tế bào sẽ có khả năng phát triển thành ung thư vú. Do đó, những yếu tố làm tăng thời gian tiếp xúc của tuyến vú với estrogen đều có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Một số yếu tố liên quan đến nội tiết như sau: tuổi bắt đầu có kinh sớm, tuổi mãn kinh muộn hoặc đã mãn kinh nhưng dùng thuốc nội tiết thay thế. Những phụ nữ không sinh con có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp 1,4 lần phụ nữ có sinh con. Phụ nữ mang thai đủ thời gian lần đầu sau 30 tuổi có nguy cơ bị bệnh gấp 2 đến 5 lần so với phụ nữ mang thai đủ thời gian trước 30 tuổi. Không cho con bú cũng là một yếu tố nguy cơ. Nguy cơ ung thư vú sẽ giảm 4 % cho mỗi năm ở những người phụ nữ cho con bú. - Một số yếu tố khác: quá sản lành tính không điển hình cũng là yếu tố nguy cơ ung thư vú. Khoảng 10 % ung thư vú liên quan với ít vận động. Những phụ nữ béo, đặc biệt khi đã mãn kinh liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú. Phụ nữ tiếp xúc với tia phóng xạ khi còn trẻ như phải điều trị bằng tia xạ tại vùng ngực vì các bệnh ác tính khác có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn những phụ nữ khác gấp 12 lần. Những phụ nữ uống rượu có nguy cơ ung thư vú tăng 10 %, nguy cơ tăng theo lượng rượu mỗi ngày ( Trần Văn Thuấn và CS , 2013 ).

Tìm hiểu về các bệnh ung bướu tại: https://www.ungthu-nguyenvanthai.com

Tìm hiểu về các dịch vụ thẩm mỹ tại: https://www.thammy-nguyenvanthai.com

ĐẶT CÂU HỎI

  • RSS
  • Facebook
  • brasol_edited
  • YouTube

Thái Nguyễn Clinic

Ân tình còn mãi

CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ  - HÀ NỘI - HẢI DƯƠNG

 

Thông tin liên hệ :

SĐT bác sĩ : 0984363388

Địa chỉ 1: 40 Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Địa chỉ 2 : 251 Đường Thanh Niên, Phường Hải Tân, Thành phố Hải Dương

Website: https://nguyenvanthai.vn/

Cập nhật thông tin trên kênh